Chuyển đến nội dung chính

Chính sách thuế Thu nhập cá nhân

 Chính-sách-thué-Thu-nhap-ca-nhan

Trả lời C/v số 139/VNM-ĐN ngày 18/02/2021 của Công ty CP Viễn thông Di động Vietnamobile

Hỏi về chính sách thuế TNCN. Cục Thuế TP Hà Nội mang quan điểm như sau:

– Căn cứ Điều 4 Hiệp định giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam; và chính quyền khu hành chính đặc biệt Hồng Kông của nước CHND Trung Hoa

Về giảm thiểu đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối sở hữu những chiếc thuế đánh vào thu nhập quy định như sau:

“Điều 4. Đối tượng cư trú

1. Theo nội dung của Hiệp định này, thuật ngữ “đối tượng trú ngụ của một Bên ký kết” nghĩa là:

(a) trong ví như đối có Khu Hành chính đặc biệt Hồng Kông,

(i) bất kỳ cá nhân nào trú ngụ thường ngày tại Khu Hành chính đặc thù Hồng Kông;

(ii) bất kỳ cá nhân nào ở tại Khu Hành chính đặc trưng Hồng Kông hơn 180 ngày/năm tính thuế; hoặc hơn 300 ngày trong hai năm tính thuế liên tục mà 1 trong hai năm đấy là năm tính thuế mang liên quan;

(iii) một doanh nghiệp đăng ký xây dựng thương hiệu tại Khu Hành chính đặc biệt Hồng Kông; hoặc đang bị quản lý; hoặc bị kiểm soát 1 cách bình thường tại Khu Hành chính đặc thù Hồng Kông giả dụ đăng ký thành lập bên cạnh Khu Hành chính đặc biệt Hồng Kông;

(iv) bất kỳ đối tượng nào được ra đời theo các luật của Khu Hành chính đặc trưng Hồng Kông; hoặc đang bị quản lý; hoặc bị kiểm soát 1 phương pháp bình thường tại Khu Hành chính đặc biệt Hồng Kông giả dụ được xây dựng thương hiệu ngoài Khu Hành chính đặc trưng Hồng Kông;

(b) trong nếu đối sở hữu Việt Nam, bất kỳ đối tượng nào, mà theo những luật của Việt Nam, là đối tượng chịu thuế căn cứ vào nhà ở, nơi cư trú, trụ sở đăng ký thành lập, hội sở đăng ký, hội sở điều hành; hoặc các tiêu chuẩn khác có tính chất tương tự.

Tuy nhiên, thuật ngữ này không bao gồm bất kỳ đối tượng nào là đối tượng chịu thuế tại VN; chỉ đối với thu nhập từ những nguồn tại Việt Nam.

2. Trường hợp theo các quy định tại khoản 1, khi một cá nhân là đối tượng cư trú của cả hai Bên ký kết,
thì thân phận cư trú của cá nhân đó sẽ được xác định như sau:
(a) cá nhân đấy sẽ được coi là đối tượng trú ngụ chỉ của Bên mà tại đó cá nhân ấy có nhà ở thường trú;

nếu cá nhân ấy có nhà ở thường trú ở cả hai Bên, cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Bên mà cá nhân ấy có các quan hệ cá nhân và kinh tế chặt chẽ hơn (“trung tâm của những lợi quyền chủ yếu”);

(b) ví như ko thể xác định được Bên mà ở đấy cá nhân đó có trọng điểm của những lợi quyền chủ yếu; hoặc giả dụ cá nhân đó ko với nhà ở thường trú ở cả hai Bên

thì cá nhân đấy sẽ được coi là đối tượng trú ngụ chỉ của Bên mà cá nhân đấy thường xuyên sống

(c) trường hợp cá nhân đó thường xuyên sống ở cả hai Bên hoặc ko thường xuyên sống ở Bên nào,

thì cá nhân ấy sẽ được coi là đối tượng trú ngụ chỉ của Bên mà cá nhân ấy có quyền cư trú (trong trường hợp đối mang Khu Hành chính đặc thù Hồng Kông); hoặc của Bên mà cá nhân đấy là một đối tượng sở hữu quốc tịch (trong ví như đối có Việt Nam);

(d) trường hợp cá nhân đó có quyền cư trú tại Khu Hành chính đặc trưng Hồng Kông và cũng là đối tượng có quốc tịch của Việt Nam, hoặc ko mang quyền trú ngụ tại Khu Hành chính đặc trưng Hồng Kông và cũng không là đối tượng sở hữu quốc tịch, của Việt Nam, thì những nhà chức trách sở hữu thẩm quyền của hai Bên ký kết sẽ giải quyết vấn đề bằng thỏa thuận song phương.

3. Trường hợp do những quy định tại khoản 1, khi 1 đối tượng ko phải là cá nhân là đối tượng cư trú của cả hai Bên ký kết, khi đó những nhà chức trách mang thẩm quyền của hai Bên ký kết sẽ xác định đối tượng đấy là đối tượng trú ngụ của 1 Bên ký kết theo nghĩa của Hiệp định này bằng thoả thuận song phương.”

– Căn cứ khoản 1 Điều một Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính

Hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân; Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của luật thuế thu nhập cá nhân; NĐ số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết 1 số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân; và Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của luật thuế thu nhập cá nhân hướng dẫn như sau:

“Điều 1. Người nộp thuế

… 1. Cá nhân trú ngụ là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:

a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục (kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam); trong đấy ngày tới và ngày đi được tính là 1 (01) ngày.

Ngày tới và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân lúc tới và lúc rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú.

Cá nhân với mặt tại VN theo chỉ dẫn tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên bờ cõi VN.

b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:

…b.2) Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của luật pháp về nhà ở; với thời hạn của các hiệp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau:

b.2.1) Cá nhân chưa hoặc ko mang nơi ở thường xuyên theo chỉ dẫn tại điểm b.1, khoản 1, Điều này nhưng có tổng số ngày thuê nhà để ở theo các hiệp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế

cũng được xác định là cá nhân cư trú, nói cả ví như thuê nhà ở phổ biến nơi.

b.2.2) Nhà thuê để ở bao gồm cả ví như ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ; ở nơi khiến cho việc; ở hội sở cơ quan,… ko phân biệt cá nhân tự thuê hay người dùng lao động thuê cho người lao động.

Trường hợp cá nhân mang nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại khoản này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân ko chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào

thì cá nhân ấy là cá nhân trú ngụ tại Việt Nam.

Việc chứng minh là đối tượng cư trú của nước khác được căn cứ vào Giấy chứng thực cư trú. Trường hợp cá nhân thuộc nước; hoặc vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định thuế sở hữu VN ko có quy định cấp GCN cư trú

thì cá nhân sản xuất bản chụp Hộ chiếu để chứng minh thời kì cư trú.

2. Cá nhân ko cư trú là người ko đáp ứng điều kiện nêu tại khoản 1, Điều này.

– Căn cứ Điều 2 TT số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung những khổ 1, 2, 3, 4 Điều một TT số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính; chỉ dẫn như sau:

“Điều 1. Người nộp thuế

Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của người nộp thuế như sau:

+ Đ/v cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế:

Là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, ko phân biệt nơi trả thu nhập;

+ Đ/v cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế

Là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập”

Căn cứ quy định trên,

trường hợp Bà Christina Hui (Quốc tịch Hồng Kông) có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam nhưng thực tại có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế; thì việc xác định tình trạng trú ngụ của cá nhân tại Việt Nam như sau:
– Nếu cá nhân chứng minh là đối tượng trú ngụ tại Hồng Kông theo quy định của Hồng Kông thì:

+ Cá nhân được xác định là không trú ngụ tại Việt Nam và kê khai thu nhập chịu thuế TNCN phát sinh tại Việt Nam

(theo thuế suất toàn phần).

+ Các khoản thu nhập phát sinh tại Việt Nam; ví như Công ty đã khấu trừ và khai thuế TNCN theo Biểu thuế lũy tiến từng phần; thì điều chỉnh lại theo thuế suất ứng dụng đối với cá nhân không cư trú.

– Nếu cá nhân ko chứng minh được là đối tượng cư trú tại Hồng Kông theo quy định của Hồng Kông thì:

+ Cá nhân được xác định là trú ngụ tại Việt Nam.

+ Cá nhân mang bổn phận kê khai thu nhập nảy sinh tại Việt Nam & thu nhập nảy sinh không tính bờ cõi VN (nếu có).

( theo Biểu thuế lũy tiến từng phần)

Trường hợp khi Bà Christina Hui là đối tượng cư trú của cả hai nước Việt Nam và Hồng Kông thì:

Thân phận cư trú sẽ được xác định theo q/đ tại khoản 2 Điều 4 Hiệp định giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam; và chính quyền khu hành chính đặc biệt Hồng Kông của nước CHND Trung Hoa

về giảm thiểu đánh thuế hai lần và ngăn phòng ngừa việc trốn lậu thuế đối với những cái thuế đánh vào thu nhập.

Cục Thuế TP Hà Nội giải đáp để Công ty được biết và thực hiện./.

Các bài viết liên quan:

Mọi chi tiết xin liên hệ:

  • Hãng kiểm toán Calico
  • Địa chỉ: Tầng 29, Tòa Đông, Lotte Center Hà Nội,
  • Số 54 Liễu Giai, Phường Cống Vị, Quận Ba Đình, TP. Hà Nội
  • VPGD: Phòng 2302, Tháp B, Toà nhà The Light, đường Tố Hữu, Phường Trung Văn, Quận Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội.
  • Hotline: 0906.246.800
  • Email: calico.vn@gmail.com
  • Website: KiemToanCalico.com | www.calico.vn

Tìm bài viết này bằng các từ khóa:

  • luật thuế tncn hợp nhất
  • luật thuế tncn sửa đổi
  • luật thuế tncn mới
  • tư vấn luật thuế thu nhập cá nhân
  • tìm hiểu luật thuế thu nhập cá nhân
  • văn bản luật thuế thu nhập cá nhân mới nhất
  • văn bản luật thuế thu nhập cá nhân
  • đăng ký kê khai thuế thu nhập cá nhân
  • công thức tính quyết toán thuế thu nhập cá nhân
  • bộ luật thuế thu nhập cá nhân
  • dự thảo luật thuế thu nhập cá nhân mới nhất
  • mẫu kê khai thuế thu nhập cá nhân mới nhất
  • luật tính thuế thu nhập cá nhân
  • nộp quyết toán thuế thu nhập cá nhân online
  • luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi bổ sung

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Quy định về khấu trừ thuế TNCN và trợ cấp

  Công văn 3342/CT-TTHT ngày 21/01/2020 V/v Thuế TNCN. Kính gửi:  Công ty TNHH Schneider Electric IT Việt Nam  (Đ/c: Tầng 8, tòa nhà Vinaconex, số 34 Láng Hạ, Quận Đống Đa, TP. Hà Nội) MST: 0104169272 Trả lờ i:  Công văn ko số đề ngày 10/01/2020 của Công ty TNHH Schneider Electric IT Việt Nam (sau đây gọi là Công ty) hỏi về thuế TNCN đối có khoản đã tính sổ cho Bà Lại Thị Hải Vân, Cục Thuế TP Hà Nội mang ý kiến như sau: Mọi chi tiết xin liên hệ:  https://kiemtoancalico.com/ – Căn cứ Bộ Luật cần lao số 10/2012/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp đồ vật 3 chuẩn y ngày 18/6/2012: + Tại Điều 48 quy định về trợ cấp mất việc như sau: “1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại những khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người tiêu dùng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc cho người cần lao đã khiến cho việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm cho việc được trợ cấp 1 nửa tháng tiền lương: 2. Th

Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ quà tặng

 Công văn 77547/CT-TTHT để giải đáp cho công văn số 2549/CNVTQĐ-TNCL ngày 27/7/2020 của Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (sau đây gọi là Đơn vị) hỏi về thuế TNCN đối với thu nhập từ quà tặng , Cục Thuế TP Hà Nội có quan điểm như sau: Căn cứ khoản 10 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 8 năm 2013 chỉ dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn: Mọi chi tiết xin liên hệ: https://kiemtoancalico.com/ “10. Thu nhập từ nhận quà tặng Thu nhập từ nhận quà tặng là khoản thu nhập của cá nhân nhận được từ các tổ chức, cá nhân trong và không tính nước, cụ thể như sau: a) Đối có nhận quà tặng là chứng khoán bao gồm: cổ phiếu, quyền chọn cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ quỹ và các mẫu chứng khoán khác theo quy định của Luật Chứng khoán; cổ phần của những cá nhân trong công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp. b) Đối có nhận quà

Chính sách thuế với cá nhân hoạt động môi giới bất động sản

 Công văn 3452/CT-TTHT năm 2020 V/v chính sách thuế đối có cá nhân hành nghề độc lập Kính gửi:  Công ty TNHH EFACTORY Việt Nam. Địa chỉ: Tầng 8, tòa nhà Miss Áo Dài, 21 Nguyễn Trung Ngạn, P.Bến Nghé, Q.1, TP.HCM. Mã số thuế: 0315158600 Trả lời văn thư số 01/2019-CV/EF ngày 28/11/2019 của Công ty về chính sách thuế, Cục Thuế TP với quan điểm như sau: Căn cứ Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 quy định: “Thương nhân bao gồm doanh nghiệp kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại 1 bí quyết độc lập, thường xuyên và sở hữu đăng ký kinh doanh.” Căn cứ Khoản 2 Điều 62 Mục 2 Luật buôn bán bất động sản số 66/2014/QH13: “ Điều 62. Điều kiện của tổ chức, cá nhân marketing dịch vụ môi giới bất động sản …2. Cá nhân với quyền buôn bán dịch vụ môi giới bất động sản độc lập nhưng phải có chứng chỉ hành nghề và đăng ký nộp thuế theo quy định…” Căn cứ Thông tư số 111/2013/TT-BTC: + Tại Khoản 2 Điều 2 quy định về các khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương, ti